Khi xem lại số liệu những người đã đọc bài viết [PHẢI CHĂNG ĐÃ ĐẾN LÚC CHỐNG LẠI KHÁI NIỆM NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ?] có một chi tiết nhỏ làm chúng tôi dừng lại: chỉ 13.1% người đọc bài viết về này là người trẻ 18-24 tuổi, trong khi nhóm này chiếm tới 45% lượng followers của trang kulavietnam. Họ “follow” nhưng không “engage” đây có thể phản ánh một kiểu hiện diện mà vắng mặt, như cách họ đứng bên lề những cuộc đối thoại về đời sống nông nghiệp, về câu chuyện của người nông dân. Họ lớn lên trong ánh sáng xanh của màn hình, nơi rau được bọc trong màng nhựa siêu thị, nơi thực phẩm tồn tại như một sản phẩm công nghiệp chứ không phải kết quả của mối quan hệ với đất. Với họ, Grab Food và Shopee đã thay thế vườn rau sau nhà, và khái niệm “mùa vụ” chỉ còn là từ ngữ xa lạ trong sách giáo khoa. Sự im lặng này không phải ngẫu nhiên; nó phản ánh một quá trình biến đổi về nông nghiệp ở Việt Nam trong nhiều năm qua.
Cách thế hệ này tương tác với thực phẩm là một cú swipe để đặt món, một cú click để thanh toán. Trong thế giới mà ngập tràn app, sự kiên nhẫn của người nông dân chờ 90 ngày để thu hoạch một trái cà chua trở nên khó hiểu, gần như phi lý. Người trẻ không biết rằng đất có mùi khác nhau sau mỗi cơn mưa, rằng lá cây có cách riêng để kể về nỗi khát của rễ.
Trong các cuộc trò chuyện với người trẻ đô thị, chúng tôi nhận ra nông nghiệp với họ đã trở thành một khái niệm trừu tượng, nó chỉ xuất hiện trong các slide PowerPoint về “phát triển bền vững” hay “kinh tế xanh”. Đời sống nông nghiệp không còn là thứ họ chạm vào, mà là một ý tưởng được đóng gói trong các khóa học về môi trường.
Ngược lại, nhóm 25-44 tuổi chiếm gần 70% tương tác mang trong mình một kiểu lo âu đặc biệt. Đây là những người đã đủ thời gian trong cuộc đua kinh tế đô thị để nhận ra cái giá của sự xa lánh tự nhiên. Trong căn bếp chật hẹp của căn hộ chung cư, họ rửa rau với nỗi băn khoăn về thuốc trừ sâu. Khi con họ dị ứng không rõ nguyên nhân, khi các ca ung thư trong khu phố tăng lên, họ bắt đầu đặt câu hỏi về thứ họ đang ăn hàng ngày.
Điều thú vị là chính những chủ nông hộ nhỏ đã share bài viết này cho khách hàng của mình. Trong hành động share ấy, chúng tôi đọc thấy một nỗ lực kết nối: họ muốn khách hàng hiểu rằng nông nghiệp không chỉ là việc trồng và thu hoạch, mà là một cuộc đối thoại phức tạp với hệ sinh thái. Loạt bài viết mà chúng tôi trình bày với luận điểm “chống hữu cơ” trở thành ngôn ngữ chung để những người nông dân làm nông nghiệ sinh thái giải thích tại sao họ làm khác, tại sao giá không thể rẻ như rau chợ, tại sao mùa này có mà mùa kia không.
Nhưng có một nghịch lý sâu xa hơn. Thế hệ 25-44 quan tâm đến nông nghiệp sinh thái không phải vì họ gần gũi với đất, mà chính vì họ đã quá xa. Sự quan tâm của họ mang tính cứu chuộc như thể họ đang tìm cách hàn gắn một mối quan hệ đã đứt. Họ mua rau hữu cơ như một cách để hàn gắn rạn nứt về sinh thái do đời sống công nghiệp gây ra, tham gia các tour nông trại như du khách trong chính quê hương mình.
Những người follow page là 68% ở hai thành phố lớn là Sài Gòn và Hà Nội càng khắc sâu khoảng cách này. Những bàn tay từng quen với đất của cha ông nay đang gõ bàn phím trong các tòa nhà văn phòng. Kiến thức về nông nghiệp, nếu có, được tiếp nhận qua màn hình chứ không phải qua trải nghiệm sống.
Nhưng có lẽ điều đáng quan ngại nhất không phải người trẻ không quan tâm đến nông nghiệp theo cách truyền thống. Vấn đề là họ đang mất đi khả năng đọc hiểu tự nhiên. Khi một thế hệ không còn nhận ra sự khác biệt giữa một cái cây khỏe mạnh và một cái cây đang stress, không phân biệt được mùi của đất tốt và đất chết, thì mọi cuộc thảo luận về nông nghiệp sinh thái trở nên trống rỗng.
Chúng tôi nghĩ rằng con số 13.1% của thế hệ trẻ không nói rằng họ đang thờ ơ. Có lẽ, nó nói về một thế hệ đã mất ngôn ngữ để nói chuyện với đất, thứ ngôn ngữ không học từ Google mà phải qua đôi bàn tay lấm bùn, qua mùi đất sau mưa, qua nỗi vui mừng khi mầm cây vừa nhú. Và khi ngôn ngữ ấy biến mất, liệu chúng ta có thể bàn về nông nghiệp sinh thái khi chính thế hệ tương lai không còn biết đất là gì?