PHƯƠNG PHÁP TỰ TRUYỆN DÂN TỘC CHÍ: TỪ TRẢI NGHIỆM MANG THAI CỦA NHÀ NHÂN LOẠI HỌC ĐẾN PHẢN TƯ BỐI CẢNH PHỤ NỮ BẢN ĐỊA MANG THAI

Bài luận “Chuyện hai thai kỳ” (A Tale of Two Pregnancies) của Lila Abu-Lughod là một ví dụ kinh điển về việc sử dụng phương pháp tự truyện dân tộc chí (autoethnography) trong nghiên cứu nhân loại học. Phương pháp này sẽ được giới thiệu trong Lớp Học Thử Nghiệm Tháng 10: Điển Cứu Người Chuyển Giới Ở Sài Gòn được kulavietnam tổ chức. Phương pháp tự truyện dân tộc chí chính là việc kể lại trải nghiệm mang thai của chính bản thân nhà nhân loại học Lila Abu-Lughod, đặt trong mối tương quan với những gì tác giả đã quan sát được từ việc nghiên cứu thực địa trước đó với phụ nữ Bedouin ở Ai Cập, Abu-Lughod đã vượt qua ranh giới giữa “bản thân” của nhà nhân loại học với “cái khác” mà nhà nhân loại học nghiên cứu. Bài luận cho thấy quá trình một nhà nhân loại học nữ học hỏi về sinh sản ở hiện trường đã định hình lại trải nghiệm riêng của họ như thế nào.

Trước hết, Abu-Lughod đã mô tả chi tiết những cảm nhận của bản thân trong thai kỳ, như cảm giác ốm nghén vào buổi sáng hay xúc động khi lần đầu cảm nhận thai nhi chuyển động. Tác giả viết: “Cái bụng mà tôi xoa dầu hạnh nhân và nhìn xuống giờ đây ở đây rồi, không còn trên màn hình nữa. Nó trông giống như bụng của Kareema. Cuốn sách mang thai bảo rằng thoạt đầu tôi sẽ cảm thấy các em bé chuyển động như những con bướm hay cá bơi lội, nhưng nó đã sai. Đó là một cảm giác giật thình thịch rõ ràng - như nhịp tim nhưng ở sai chỗ.” Qua đoạn miêu tả sinh động này, ta có thể hình dung sự hồi hộp, bỡ ngỡ cũng như niềm hạnh phúc lẫn lo lắng của Abu-Lughod khi mang thai lần đầu.

Song song với đó, tác giả hồi tưởng lại việc thực địa trước đây của mình với phụ nữ Bedouin, đặc biệt là Kareema và Zaynab. Abu-Lughod nhận ra rằng trước kia tác giả biết rất ít về những gì những người phụ nữ này trải qua khi mang thai: “Quá bận rộn với thế giới của riêng mình và công việc nghiên cứu, thoạt đầu ở độ tuổi 20 và sau đó ở độ tuổi 30, tôi cho rằng mình rất quan tâm đến trải nghiệm của phụ nữ. Nhưng tôi hầu như không để ý gì về các thai kỳ của họ ngoài cái bụng lồi lên được giấu khéo léo bởi những chiếc thắt lưng đỏ to. Phụ nữ làm việc chăm chỉ, nâng những nồi nấu ăn nặng trĩu, cõng con trên lưng, giặt quần áo, và đi bộ những quãng đường dài để thăm bạn bè và người thân. Việc mang thai dường như không gây cản trở gì mấy.” Qua đoạn hồi tưởng này, ta thấy sự khác biệt rõ rệt trong thái độ của Abu-Lughod ở hai thời điểm. Trước đó, với con mắt của một nhà nhân loại học, tác giả chỉ quan sát phụ nữ Bedouin một cách khách quan, từ bên ngoài, mà không thực sự thấu hiểu nỗi vất vả của họ. Nhưng giờ đây, đặt mình vào vị trí của một thai phụ, tác giả đã có cái nhìn đồng cảm và sâu sắc hơn với những phụ nữ này.

Tiếp theo, Abu-Lughod đã so sánh trải nghiệm mang thai của bản thân - với sự hỗ trợ của y học hiện đại tại Mỹ, với thai kỳ thiếu thốn chăm sóc y tế của phụ nữ Bedouin tại Ai Cập. Tác giả viết: “Việc mang thai của tôi, ngược lại, là một thành tựu Mỹ tư bản muộn điển hình: được hỗ trợ bởi những tiến bộ mới nhất trong công nghệ hỗ trợ sinh sản, được theo dõi từ giai đoạn rụng trứng đến nhịp tim thai nhi nhờ siêu âm và phân tích nội tiết, và rất tốn kém.” Trong khi đó, Kareema và những phụ nữ khác thì “trong những ngày đó, hầu như không được chăm sóc y tế”. Tuy vậy, Abu-Lughod cũng chỉ ra rằng: “Nếu tôi chưa từng biết Kareema và những phụ nữ khác ở Ai Cập đã chia sẻ cuộc sống của họ với tôi, có lẽ tôi đã không thể lắc đầu và cười vào chính bản thân mình vì quá xôn xao rối rít, và có lẽ tôi cũng đã không cảm thấy mình may mắn đến thế.” Đoạn so sánh này cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa việc sinh sản ở hai nền văn hóa Mỹ và Ai Cập, nhưng đồng thời cho thấy một phụ nữ có thể cảm thấy mình gắn kết với những phụ nữ ở tận “phương trời khác” nếu đi vào ngưỡng cửa làm mẹ.

Cuối cùng, Abu-Lughod đã suy ngẫm về cách trải nghiệm và kiến thức có được từ những phụ nữ mà tác giả từng nghiên cứu đã góp phần định hình lại cách tác giả trải nghiệm việc mang thai của chính mình, ngay cả khi họ vẫn là các “đối tượng nghiên cứu”. Tác giả viết: “Khi mang thai, tôi nhận ra rằng những nguồn lực văn hóa mà tôi có để nghĩ về những gì mình đang trải qua và để lấp đầy những khoảng trống trong hiểu biết về một địa hình bất định bao gồm cả những nguồn lực từ ‘nhà’ và từ ‘thực địa’, thường được đặt cạnh nhau.” Từ “nhà”, tác giả có nền tảng gia đình, kiến thức y khoa, góc nhìn phê phán của phong trào nữ quyền. Còn từ “thực địa”, với Kareema và những người phụ nữ khác, tác giả có vô số ghi chép về những quan niệm và câu chuyện về sinh sản, cùng với những ký ức sống động về một thế giới tràn ngập phụ nữ mang thai, sinh con và chăm sóc trẻ. Abu-Lughod kết luận: “Trong khi mang thai, tôi nghĩ và cảm nhận với tất cả những nguồn lực này.” Điều này cho thấy công việc thực địa có thể định hình trải nghiệm cá nhân của nhà nhân loại học một cách sâu sắc, xóa nhòa ranh giới giữa “nhà” và “thực địa”, giữa “bản thân” và “cái khác”.

Thông qua phương pháp tự truyện dân tộc chí, Abu-Lughod đã cho thấy một nhà nhân loại học nữ có thể kết nối sâu sắc với những phụ nữ mà họ nghiên cứu, vượt qua khoảng cách văn hóa để thấu cảm và học hỏi từ nhau. Câu chuyện của tác giả là một minh chứng sinh động cho việc làm thế nào chủ thể và khách thể của nghiên cứu có thể trở thành một, làm thế nào hiện trường có thể trở thành ngôi nhà, và làm thế nào nhà nhân loại học có thể “đi vào bản thân” qua việc nghiên cứu “cái khác”.

Nguồn: Abu-Lughod, L. (1996). 17. A TALE OF TWO PREGNANCIES. In R. Behar & D. Gordon (Ed.), Women Writing Culture (pp. 339-349). Berkeley: University of California Press.