NHÀ NHÂN LOẠI HỌC CLAUDE LÉVI-STRAUSS PHÊ PHÁN UNESCO
“KHÔNG THỂ ÁP ĐẶT NIỀM TIN MÀ CHÚNG TA CHO LÀ TỐT ĐẸP LÊN NGƯỜI KHÁC”
Năm 1971, nhà nhân loại học lỗi lạc người Pháp là Claude Lévi-Strauss được UNESCO mời lên phát biểu vấn đề chủng tộc và văn hoá. Ông đã có một bài diễn văn đi “trật” những gì quan điểm mà UNESCO muốn ông nói. Nhưng với thái độ của người trí thức phê phán thẳng thắn trung thực, Claude Lévi-Strauss đã nêu rõ quan điểm của ông về việc UNESCO vẫn sử dụng luận điểm “chống phân biệt chủng tộc” cũ rích không kịp với sự phát triển của nghiên cứu khoa học hiện nay, việc lạm dùng khái niệm “phân biệt chủng tộc” để quy chụp nhau mà không biết rằng đây chỉ là sự chưa thấu hiểu văn hoá của nhau, hoặc những từ ngữ đẹp đẽ như “cởi mở bản thân”, “tôn vinh bản sắc” mà UNESCO rao giảng không giải quyết được gì cho vấn đề phân biệt chủng tộc. Phần sau đây được trích trong lời giới thiệu của tác phẩm “Ánh nhìn xa xăm” (Le regard éloigné) được xuất bản vào năm 1983. Qua đoạn trích này, chúng ta có thể thấy tinh thần của một trí thức trong việc dám phê phán quan điểm của các tổ chức quốc tế như UNESCO đại diện và làm việc liên quan văn hoá và xã hội. Quan trọng hơn hết, trong đoạn trích này, Claude Lévi-Strauss khẳng định mỗi người có quyền sống theo giá trị và niềm tin của mình. Dù niềm tin đó tự chính chúng ta cho là tốt đẹp cũng không nên áp đặt, quy chụp lên người khác. Khi mà niềm tin mà ta cho rằng tốt đẹp ấy xa lạ với niềm tin của người khác, đồng thời cũng không thể mượn cớ phá hủy giá trị của người khác do không theo giá trị của chúng ta.
Năm 1971, UNESCO đã đề nghị tôi khai mạc Năm quốc tế chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc bằng một bài diễn thuyết quan trọng. Lý do họ chọn tôi có lẽ là vì 20 năm trước đó, tôi đã viết một bài báo có tựa đề “Chủng tộc và lịch sử”, cũng theo yêu cầu của UNESCO (được tái bản trong cuốn “Nhân loại học cấu trúc 2”, chương XVIII) và đã gây được tiếng vang nhất định. Trong bài báo đó, tôi đã nêu ra những sự thật cơ bản dưới một hình thức trình bày có thể là mới lạ, và nhanh chóng nhận ra rằng người ta chỉ mong đợi tôi nhắc lại những điều đó. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, để phục vụ các tổ chức quốc tế mà tôi cảm thấy có nghĩa vụ tin tưởng nhiều hơn so với bây giờ, trong phần kết luận của “Chủng tộc và lịch sử”, tôi đã hơi quá lời. Có lẽ do tuổi tác, chắc chắn là do những suy nghĩ xuất phát từ tình hình thế giới, giờ đây tôi không muốn nhượng bộ như vậy nữa, và tôi tự thuyết phục bản thân rằng để giúp ích cho UNESCO và hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách trung thực, tôi phải bày tỏ quan điểm một cách thẳng thắn.
Đó là một vụ bê bối ồn ào [giọng mỉa mai]. Tôi gửi bản thảo bài diễn văn của mình trước 48 giờ. Đến ngày diễn thuyết, René Maheu, khi đó là Tổng Giám đốc UNESCO, đã lên phát biểu trước mà không báo cho tôi biết. Mục đích của ông ấy không chỉ là để phủ nhận trước những điều phạm thượng từ phía tôi, mà quan trọng hơn là để làm xáo trộn lịch trình đã định, buộc tôi phải cắt bỏ một số phần mà theo quan điểm của UNESCO thì đó là những điều được coi là thắng lợi. Tuy nhiên, tôi đã thành công trong việc đọc hết bài diễn văn của mình và kết thúc đúng thời gian. Nhưng sau bài diễn thuyết, khi gặp các nhân viên UNESCO trong hành lang, họ tỏ ra hoảng hốt trước việc tôi đã tấn công vào một tín điều vốn là bài học niềm tin không thể thiếu với họ. Việc tiếp thu tín điều đó, nhờ những nỗ lực đáng khen ngợi đi ngược lại truyền thống địa phương và môi trường xã hội của bản thân, đã giúp họ chuyển từ một công việc khiêm tốn ở một quốc gia đang phát triển nào đó sang vị trí được tôn vinh của một nhân viên trong một tổ chức quốc tế.
Vậy rốt cuộc tôi đã phạm những tội lỗi gì? Nhìn lại, tôi nhận thấy có 5 điều:
Thứ nhất, tôi muốn khiến khán giả nhận thức rằng, kể từ những chiến dịch đầu tiên của UNESCO chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, đã có một số tiến bộ trong nghiên cứu khoa học. Để xóa bỏ định kiến chủng tộc, không đủ chỉ lặp lại những lập luận cũ chống lại nhân loại học hình thể cổ điển, các phép đo cơ thể, hay các phương pháp đánh giá màu da, mắt, tóc… Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ngày nay đòi hỏi phải có một cuộc đối thoại rộng mở với di truyền học quần thể, cho dù chỉ là bởi vì các nhà di truyền học hiểu rõ hơn chúng ta về sự bất lực trên thực tế hay về mặt pháp lý trong việc xác định phần bẩm sinh và phần thu nhận ở con người. Nhưng khi vấn đề này giờ đây được đặt ra dưới góc độ khoa học thay vì triết học, ngay cả các câu trả lời phủ định cũng mất đi tính chất giáo điều của nó. Trước đây, cuộc tranh luận về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc giữa các nhà dân tộc học và nhân loại học diễn ra như trong một không gian kín. Thừa nhận rằng các nhà di truyền học đang đưa vào đó một luồng không khí trong lành khiến tôi bị buộc tội đưa sói vào chuồng cừu.
Thứ hai, tôi phản đối việc lạm dụng ngôn từ, khi ngày càng có nhiều người nhầm lẫn chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo nghĩa hẹp với những thái độ bình thường, thậm chí chính đáng và dù sao cũng không thể tránh khỏi. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là một học thuyết cho rằng các đặc điểm trí tuệ và đạo đức được gán cho một nhóm người, dù được định nghĩa theo cách nào, đều là hệ quả tất yếu của một di sản di truyền chung. Ta không nên đánh đồng, hoặc vơ đũa cả nắm cho cùng một thành kiến, thái độ của các cá nhân hay nhóm người mà sự trung thành của họ với một số giá trị nào đó khiến cho họ phần nào hoặc hoàn toàn vô cảm với các giá trị khác. Hoàn toàn không có gì đáng trách khi đặt một lối sống và tư duy lên trên tất thảy các lối sống khác, hay khi người ta không mấy cảm thấy bị lôi cuốn bởi những người có lối sống hoàn toàn khác biệt, cho dù lối sống ấy xứng đáng để tôn trọng. Sự bất đồng thuộc về tương đối này rõ ràng không thể biện minh cho việc đàn áp hay phá hủy các giá trị mà người ta phủ nhận, hoặc những người thể hiện các giá trị ấy; tuy nhiên, nếu nó chỉ dừng ở mức độ đó thì cũng chẳng có gì đáng phẫn uất cả. Nó thậm chí có thể đại diện cho cái giá phải trả để các hệ thống giá trị của mỗi gia đình tinh thần hoặc của mỗi cộng đồng được gìn giữ, và tìm thấy trong chính nền tảng của mình những nguồn lực cần thiết cho sự đổi mới. Nếu như tôi đã viết trong “Chủng tộc và lịch sử”, giữa các xã hội loài người tồn tại một mức độ đa dạng tối ưu nhất định mà vượt quá đó thì chúng không thể đạt được, nhưng cũng không thể thấp hơn mà không gặp nguy hiểm, thì phải thừa nhận rằng sự đa dạng này phần lớn là kết quả của mong muốn của mỗi nền văn hóa đối lập với những nền văn hóa xung quanh, phân biệt mình với chúng, nói tóm lại là khẳng định bản sắc của chính mình. Các nền văn hoá không phủ nhận nhau, thỉnh thoảng vay mượn lẫn nhau. Tuy nhiên để văn hoá không bị tiêu vong, về một khía cạnh nào đó, các nền văn hóa cần giữ một khoảng cách cần thiết ở những khía cạnh nhất định.
Tất cả những điều này cần được nhắc lại, đặc biệt là trong thời điểm hiện nay, khi không có gì làm suy yếu cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc từ bên trong và khiến nó trở nên nhạt nhẽo hơn việc sử dụng thuật ngữ này một cách tùy tiện, nếu tôi dám nói, trong mọi ngữ cảnh, bằng cách nhầm lẫn một lý thuyết sai lầm nhưng rõ ràng với những khuynh hướng và thái độ phổ biến mà sẽ là ảo tưởng nếu tưởng tượng rằng loài người có thể thoát khỏi chúng hoặc thậm chí mong muốn điều đó. Đây là sự phóng đại từ ngữ tương tự như trong cuộc xung đột ở Quần đảo Falkland, đã khiến nhiều chính trị gia và nhà báo gọi cuộc chiến chống lại một tàn dư của chủ nghĩa thực dân trong khi thực tế đó chỉ là một cuộc tranh chấp về việc phân chia lại lãnh thổ.
Dẫu vậy, chính bởi các khuynh hướng và thái độ này luôn song hành cùng nhân loại, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của chúng trong tiến trình lịch sử: vừa không sao tránh khỏi, vừa thường phát triển vượt bậc, lại tiềm tàng nhiều nguy cơ khi trở nên cực đoan. Do đó, tôi kính mời quý vị cùng thận trọng hoài nghi, dẫu có phần nao lòng, về một thế giới tương lai nơi các nền văn hóa, quá đỗi say mê nhau, sẽ chỉ còn biết ngợi ca lẫn nhau, một thế giới hỗn mang nơi mỗi nền văn hóa đánh mất sức thu hút đối với các nền văn hóa khác, và quên mất cả lý do tồn tại của chính bản thân nó.
Thứ tư, tôi cảnh báo, vì có vẻ như cần thiết, rằng chỉ tự hào với những lời hay ý đẹp năm này qua năm khác là không đủ để thay đổi con người.
Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh rằng hệ tư tưởng của UNESCO, để tránh đương đầu với hiện thực đã dễ dàng nương náu sau những khẳng định mâu thuẫn nhau. Chương trình Hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa tổ chức tại Mexico vào năm 1982 là một minh chứng rõ nét, như tôi đã trích dẫn, khi nghĩ rằng người ta có thể dùng ngôn từ tốt lành để hóa giải những kiến nghị mâu thuẫn như “hòa hợp lòng trung thành với bản thân và sự cởi mở với người khác”, hoặc khuyến khích cùng lúc “sự khẳng định đầy sáng tạo về bản sắc riêng của từng người và sự xích lại gần nhau của mọi nền văn hóa”. Vì thế, tôi cho rằng bài diễn thuyết của mình vẫn còn nguyên giá trị sau 12 năm. Dẫu sao, nó cũng cho thấy tôi đã nêu lên một vài vấn đề ngay cả trước khi sinh học xã hội lên ngôi, và trước cả khi thuật ngữ đó xuất hiện thì điều này cũng chẳng ngăn cản tôi trong tám năm sau đó để nói lên suy nghĩ của mình về cái gọi là môn khoa học này, với những phê phán đầy sự mơ hồ, lối suy diễn hời hợt và những mâu thuẫn cố hữu của nó.