LẢM NHẢM ĐÊM KHUYA: SỰ VIỆC DECAO “TƯƠNG TÁC” LÂM MINH: SUY NGHĨ VỀ NGHI LỄ CHO PHỤ NỮ TRÁNH KHỎI TRẦM CẢM SAU SINH
Việc Decao “tương tác” Lâm Minh làm cho nhiều người sử dụng mạng xã hội bất bình. Khi Lâm Minh lên livestream với tinh thần, lời nói rối loạn, đau đớn, khóc than. Ngoại hình thì rối bời. Trong livestream Lâm Minh kể về viêc bị mẹ Decao và Decao “tương tác”. Nhiều người bình luận thấy rằng sức khoẻ tinh thần Lâm Minh bất ổn và lo lắng cho cô gái này.
Một điều đáng lưu ý, Lâm Minh từng phát biểu trên truyền thông là bị trầm cảm sau sinh. Hầu hết các nghiên cứu về phụ nữ trầm cảm sau sinh được thực hiện tại Việt Nam thường trong 3 hoặc 6 tháng đầu sau sinh cho thấy tỷ lệ trầm cảm sau sinh từ 8,2 đến 37,1%. Nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ học vấn thấp thì tỷ lệ bị trầm cảm sau sinh càng cao vì thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm về trầm cảm sau sinh, chưa chuẩn bị tốt để làm mẹ từ góc độ tâm lý và cảm thấy không hài lòng với cuộc sống mới sau khi sinh. Ngoài ra, thiếu sự hỗ trợ từ gia đình sau khi sinh, mối quan hệ kém với các thành viên trong gia đình, bạo lực gia đình cũng là yếu tố gây ra trầm cảm sau sinh. Cuối cùng, việc người chồng thích có con trai cũng gây ra trầm cảm sau sinh đối với phụ nữ. [1]
Chúng tôi nghĩ rằng vai trò của các nghi lễ văn hoá trong việc sinh nở của phụ nữ rất quan trọng. Nó là một trong những yếu tố có thể giúp phụ nữ vượt qua trầm cảm sau sinh. Trong nghiên cứu của nhà nhân loại học Sara Harkness khi so sánh về tỷ lệ trầm cảm sau sinh của người phụ nữ Kipsigis ở châu Phi với phụ nữ ở xã hội phương Tây hiện đại, tác giả cũng đã chỉ ra rằng rất hiếm khi thấy dấu hiệu trầm cảm sau sinh ở phụ nữ Kipsigis, trong khi đó phụ nữ phương Tây thường có tỷ lệ 50-80% trầm cảm sau sinh. Ở cộng đồng Kipsigis được nghiên cứu, phụ nữ sau sinh nhận được sự quan tâm và hỗ trợ đặc biệt từ gia đình và xã hội trong một khoảng thời gian nhất định. Điều này tạo điều kiện để người mẹ phục hồi cả về mặt thể chất và tinh thần.
Theo truyền thống Kipsigis , sản phụ phải nghỉ ngơi trong nhà 4 ngày sau khi sinh con trai, hoặc 3 ngày sau khi sinh con gái. Ở Kokwet, chu kỳ này là 7 ngày. Trong thời gian này, sản phụ và trẻ sơ sinh tránh tiếp xúc với người lạ và đàn ông, kể cả cha của đứa trẻ. Phụ nữ nghỉ ngơi trong khi các vợ khác của chồng, mẹ hoặc mẹ chồng giúp chăm sóc em bé và làm việc nhà. Sau 7 ngày, sản phụ có một nghi lễ tắm rửa đặc biệt rồi trở lại cuộc sống bình thường. Bà mẹ mới nhận được những món quà và sự vinh danh từ gia đình và láng giềng. [2]
Như người Khmer ở Nam bộ, khi phụ nữ mang thai thì gia đình cuủa người Khmer còn đến nhờ sư ở chùa hoặc thầy phù thuỷ làm bùa để đeo ở thắt lưng, còn gọi là “dây Kàtha” để đem lại bình an cho thai nhi và người mẹ. Sau khi sinh còn mời thầy cúng (kru) về làm bùa phép đuổi tà mà. [3]
Đối với người Việt, khi giai đoạn sinh nở đến, bà mụ có nhiệm vụ chịu trách nhiệm thay mặt gia đình thực hiện là đưa mâm cúng, lễ vật dâng lệ Mười hai Mụ Bà. Những ca sinh khó thì càng phải “cầu cạnh” rất nhiều vào việc thờ cúng Mười hai Mụ Bà. Người Việt Nam trước đây quan niệm rằng sinh khó là do bị tà khí cản trở hoặc do linh hồn thai nhi không muốn rời khỏi bụng mẹ. Bà mụ phải thực hiện nghi lễ để xua đuổi thế lực tà ma hoặc xoa dịu linh hồn thai nhi để có thể chui ra. Những lúc sinh khó, bà mụ còn thực hành cúng bái Ông Địa để ông ấy trợ giúp như là bảo vệ gia đình trước tình huống không may mắn có thể xảy ra do sinh khó. Thậm chí, nếu làm các biện pháp trên vẫn không được, bà mụ sẽ thuyết phục gia đình mời thầy cúng trong làng để thực hành các nghi lễ có pháp thuật mạnh hơn để trục xuất những thế lực tà ác này. [4]. Người Khmer và người Việt sau khi sinh đều làm lễ trả ơn bà mụ thường trong dịp thôi nôi đứa trẻ.
Trong bối cảnh hiện đại ngày này, phụ nữ sắp đẻ thì thường được đẩy thẳng vào phòng hộ sinh, một căn phòng vô trùng, bị cách ly hoàn toàn bởi các thực hành nghi lễ và mối tương giao xã hội. Các tập tục nghi lễ chuẩn bị cho phụ nữ trước khi sinh, trong khi sinh và sau khi sinh gần như rất hiếm được thực hiện. Phụ nữ không còn một không gian mang tính tâm linh để giúp họ trấn an về tinh thần và thiếu đi sợi dây tinh thần gắn kết cộng đồng để giúp họ vượt qua sau khi sinh nở.
Vì thế việc suy nghĩ lại những truyền thống về nghi lễ cho phụ nữ mang thai trong bối cảnh văn hoá Việt Nam đương đại là điều quan trọng. Đây là chính một phương pháp bản địa để giúp phụ nữ Việt Nam được hỗ trợ về mặt tinh thần sau khi sinh. Điều quan trọng về mặt nghi lễ, chính là tạo ra “khoảng thời gian chuyển tiếp” cho phụ nữ nghỉ ngơi lấy lại tinh thần, cũng như sự hỗ trợ cần thiết từ người thân và cộng đồng. Thiếu những điều này, có thể khiến họ dễ nảy sinh cảm giác bất lực và dễ bị tổn thương hơn trước những thách thức của giai đoạn sau sinh.