Trong podcast Have A Sip tập 152: Vai trò của giáo dục trong vòng lặp giàu nghèo do MC Thùy Minh và Chi Nguyễn (Present Writer) trình bày ở phút thứ 21 thì MC Thùy Minh kể lại câu chuyện đến ở nhà dân trong lần tham gia một gameshow thực tế và có đưa tiền cho người dân ở ngôi làng nghèo đó đi chợ mua thịt. Kết quả là người dân dùng hết số tiền để mua năm cân thịt về kho, thay vì chỉ cần mua vài lạng cho hôm nay, số tiền còn lại để dành cho mấy ngày sau. Từ trải nghiệm này, MC rút ra kết luận rằng người nghèo thiếu tư duy “tích cốc phòng cơ” cũng như kỹ năng lên kế hoạch. Điều này dẫn tới tình trạng họ không tối ưu được nguồn lực, dẫn đến thiếu hụt cho giáo dục. Vì vậy, MC đề xuất người nghèo cần dựa vào nỗ lực cá nhân để thay đổi tư duy, từ đó tiếp cận giáo dục và di động lên xã hội.
Từ phút 27 trở đi thì Chi Nguyễn phản hồi bằng việc nhấn mạnh sức mạnh của tính năng động của chủ thể (agency). Chi “tạm bỏ qua” việc xem xét cấu trúc xã hội vì cho rằng thay đổi cấu trúc xã hội mà thông qua đấu tranh giai cấp thì quá lâu, khó mà thay đổi được. Nên Chi Nguyễn đề xuất là thay đổi tư duy của người nghèo bằng cách cung cấp cho họ nhiều thông tin để thoát khỏi hạn chế tư duy. Có thể hiểu rằng theo Chi thì việc thay đổi tư duy giải quyết nhanh hơn cho vấn đề bất bình đẳng trong giáo dục. Ý này được Chi tiếp nối vào phút thứ 36 khi nói về tư duy chống thiếu nhấn mạnh chủ thể chỉ cần thay đổi tư duy để tiếp cận những nguồn vốn mà chủ thể có thể tiếp cận được.
Chúng tôi cho rằng không thể phủ nhận hay bỏ qua ảnh hưởng của cấu trúc xã hội, cụ thể là gia đình, đối với sự hình thành và phát triển tính năng động của chủ thể của cá nhân. Bởi lẽ, giữa hai yếu tố này tồn tại mối liên hệ chặt chẽ, qua lại và tác động biện chứng với nhau. Chỉ tập trung vào một phía là cái nhìn phiến diện. Cụ thể, gia đình chính là thiết chế tác động sâu sắc nhất tới sự nghiệp học tập và sự hình thành năng lực tự quyết của học sinh. Tuy nhiên, trong quan điểm của Chi Nguyễn dường như lại gần như hoàn toàn bỏ qua khía cạnh đó, mà chỉ tập trung quá mức vào “tính năng động của chủ thể cá nhân”. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn làm rõ điều này trong bối cảnh bàn luận về cơ hội tham gia giáo dục đại học của học sinh nghèo: Liệu việc chỉ dựa vào ý chí, nỗ lực và thay đổi nhận thức có thực sự giúp các em vượt qua được những hạn chế về hoàn cảnh gia đình để bước chân vào đại học?
Tính năng động của chủ thể (agency) chỉ đến khả năng của cá nhân trong việc đưa ra các lựa chọn có giá trị, mục đích cho bản thân và thực hiện hành động một cách độc lập, tự chủ, có trách nhiệm về hành động của bản thân, cũng như phản tư lại hành động của chính bản thân (Morin, Therriault, & Bader, 2019). Tuy nhiên, tính năng động của chủ thể không tồn tại trong một khoảng không xã hội. Thay vào đó, nó luôn gắn bó mật thiết với các cấu trúc xã hội (structure) xung quanh. Cấu trúc xã hội đề cập đến các quy ước, thiết chế, mối quan hệ trong một xã hội - là bối cảnh sẽ thúc đẩy hay hạn chế khả năng hành động của các cá nhân. Ví dụ như địa vị kinh tế xã hội hay truyền thống văn hóa sẽ ảnh hưởng đến những lựa chọn, cơ hội và khả năng thực thi của mỗi người. Như vậy, cấu trúc xã hội tạo ra các ràng buộc và giới hạn nhất định cho tính năng động của chủ thể. Ngược lại, thông qua các hành động có chủ đích của mình, cá nhân cũng có thể tác động và thay đổi dần cấu trúc. Một điều phải lưu ý dù cá nhân có thể tác động tương đối đến việc thay đổi cấu trúc nhưng cấu trúc sẽ không bao giờ thay đổi đúng như mong muốn của cá nhân.
Raymond Boudon (1973) là một trong những đại diện hàng đầu của phương pháp luận cá nhân trong xã hội học Pháp. Ông chống lại quan điểm của Pierre Bourdieu (1970) rằng bất bình đẳng giáo dục bắt nguồn từ “bạo lực biểu trưng” của nhà trường nhằm loại bỏ học sinh thiếu vốn văn hóa. Về cơ bản, quan điểm của Chi Nguyễn về tính năng động của chủ thể cũng khá gần với phương pháp luận cá nhân mà Boudon theo đuổi. Tuy nhiên, Boudon không coi cá nhân như một thực thể độc lập hoàn toàn vượt trội hoàn cảnh. Theo ông, quyết định học vấn của trẻ em phụ thuộc nhiều vào gia đình, cụ thể là 3 yếu tố: chi phí, rủi ro và đối tượng so sánh.
Cụ thể, gia đình nghèo có xu hướng hạn chế con theo học lâu dài, cho dù kết quả tạm được. Trái lại, người khá giả có thể còn duy trì hỗ trợ cho con khi kết quả kém. Điều này giải thích tại sao học sinh nghèo thường phải dừng việc học sớm. Ngoài ra, bản thân Boudon cũng đặt vấn đề cho thực tế là dù trình độ học vấn tăng lên qua các thế hệ nhưng cơ hội xã hội không tăng tương ứng. Do đó, học sinh thiệt thòi về kinh tế càng khó theo kịp giáo dục đại học ngày càng phát triển.
Một điểm then chốt trong lập luận của Boudon là việc lựa chọn học tập dựa trên tính toán cá nhân không phải lúc nào cũng đem lại kết quả như kỳ vọng. Nguyên nhân là do sự mất cân đối giữa cấu trúc nhà trường và cấu trúc xã hội (vị trí việc làm). Cụ thể, nhu cầu học tập ngày càng tăng khi mọi người đều muốn nâng cao trình độ để cạnh tranh việc làm, thu nhập. Điều này khiến trình độ chung được nâng lên theo thời gian. Ví dụ ngày xưa chỉ cần tốt nghiệp phổ thông có thể xin được việc, thì bây giờ phải có bằng cử nhân.
Tuy nhiên, số lượng vị trí, công việc dành cho lao động có trình độ cao lại có hạn. Do đó khi số người có bằng cử nhân tăng vọt trong khi cơ hội việc làm không tương xứng, giá trị của bằng cấp bị giảm sút. Điều này có thể lý giải hiện tượng mà báo chí Việt Nam đưa tin nhiều cử nhân và thạc sĩ đi chạy xe ôm công nghệ (Nguyễn Trường Sơn, 2021). Nếu theo quan điểm của Boudon thì ta có thể đặt một giả định rằng các công việc (cấu trúc xã hội) yêu cầu bằng cấp cử nhân, thạc sĩ tại Việt Nam có hạn, trong khi số lượng cử nhân và thạc sĩ được đào tạo ra lại quá nhiều dẫn đến đào thải một lượng lớn những người có bằng cử nhân, thạc sĩ phải làm các công việc trái ngành.
Điều này khiến người học càng phải theo đuổi trình độ cao hơn (theo đuổi Thạc sĩ, Tiến sĩ) để duy trì vị thế. Nhưng học sinh nghèo lại không đủ nguồn lực để theo đuổi con đường học vấn dài hơi như thế. Có thể thấy rằng sự mất cân đối trong cấu trúc xã hội là nguyên nhân khiến các nỗ lực vươn lên của cá nhân không mang lại kết quả như kỳ vọng, nhất là đối với người thiệt thòi.
Trong bối cảnh của Việt Nam, những số liệu về khảo sát giáo dục cũng cho thấy vai trò của hoàn cảnh gia đình quyết định sự nghiệp học tập của học sinh. Theo báo cáo World Bank (tr 27) khảo sát từ 2006 – 2018 thì cho thấy rằng những thanh niên từ 18-24 tuổi có cơ hội giáo dục phụ thuộc vào chi tiêu của hộ gia đình. Những hộ gia đình giàu nhất thì tỷ lệ tiếp cận Đại học cao hơn so với các hộ gia đình nghèo nhất là 67%. Tình trạng bất bình đẳng về tiếp cận giáo dục Đại học từ 2006 – 2018 trở nên tệ đi theo thời gian, cơ hội học đại học của các hộ gia đình nghèo chỉ tăng dưới 10%, trong khi các hộ gia đình còn lại từ trung lưu đến giàu tăng 30%. Hộ gia đình nghèo chiếm ít hơn 10% sinh viên tham gia vào giáo dục đại học vào năm 2006 và tỷ lệ này vẫn dưới 10% vào năm 2018. Điều này cho thấy giáo dục Đại học ở Việt Nam chủ yếu cho các hộ gia đình có thu nhập cao. (Xem biểu đồ trong hình)
Học phí đại học tại Việt Nam tăng cao trong thời gian gần đây do cơ chế tự chủ của các trường, thì với kết quả phân tích được trình bày ở trên vào thời điểm 2006-2018 khi mức học phí vẫn chưa tăng mạnh như bây giờ, nhưng tỷ lệ tham gia giáo dục đại học của học sinh nghèo đã thấp hơn nhiều so với học sinh giàu có. Chính vì vậy, xu hướng tăng học phí hiện nay chắc chắn sẽ làm giảm thêm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học của các học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đây là thực tế đáng báo động đối với các nhà hoạch định chính sách giáo dục tại Việt Nam trong bối cảnh bất bình đẳng giáo dục giữa các nhóm thu nhập đã cao. Cần có các giải pháp hỗ trợ hiệu quả hơn nữa đối với nhóm học sinh thuộc hộ gia đình nghèo để đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học. Chính cách tiếp cận Boudon gợi ý rằng tăng cường cơ hội tiếp cận cho mọi giai cấp vào giáo dục Đại học là chưa đủ, mà còn phải đưa vào các biện pháp kinh tế cho phép học sinh có nguồn gốc khiêm tốn để họ giảm việc coi trọng chi phí học tập để theo đuổi dài hạn nghề nghiệp mà họ mong muốn.
Như vậy, hoàn cảnh gia đình đóng vai trò then chốt, không thể phủ nhận ảnh hưởng của nó đối với cơ hội học tập cá nhân. Giải pháp đơn thuần là thay đổi nhận thức là chưa đủ.
Như đã đề cập, tính năng động của chủ thể nói đến khả năng ra quyết định và hành động độc lập của cá nhân. Trong khi đó, cấu trúc xã hội đề cập tới bối cảnh và điều kiện xã hội bao quanh ảnh hưởng tới cá nhân. Có thể nói, mối quan hệ giữa tính năng động của chủ thể và cấu trúc xã hội là mối quan hệ nguyên nhân - kết quả. Cấu trúc xã hội tác động, giới hạn hoặc mở rộng các lựa chọn của cá nhân. Từ đó, hình thành nên tính năng động của chủ thể - tức là cách ứng xử, phản ứng và ra quyết định trước những điều kiện đã cho.
Chẳng hạn, một học sinh xuất thân từ gia đình nghèo khó, thiếu thốn điều kiện vật chất (cấu trúc xã hội), thì hoàn cảnh đó sẽ hạn chế các lựa chọn học tập, buộc bạn ấy phải kiếm tiền trang trải cuộc sống thay vì đến trường (tính năng động của chủ thể). Ngược lại, học sinh sinh ra trong gia đình khá giả không phải lo toan về chuyện học phí, sách vở. Do đó, các bạn đó lại có nhiều cơ hội, lựa chọn hơn trong học tập như tham gia các khóa học thêm, ôn thi vào đại học.
Vậy nên, giữa tính năng động của chủ thể và cấu trúc xã hội tồn tại mối liên hệ mật thiết, tương tác và chi phối lẫn nhau. Cá nhân không thể thoát ly hoàn toàn khỏi bối cảnh xã hội. Và bối cảnh xã hội cũng dần được hình thành, thay đổi bởi tích lũy hành động của các cá nhân. Đó là lý do không thể đề cao quá mức vai trò ý chí cá nhân mà bỏ qua bối cảnh xung quanh. Muốn giải quyết triệt để bất bình đẳng, cần có sự cân bằng, kết hợp giữa nâng cao nhận thức của cá nhân và đổi mới chính sách về giáo dục để cải cách xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, phải thừa nhận rằng tư tưởng của chủ nghĩa cá nhân theo hệ tư tưởng Tân tự do đang lan rộng. Xét trong khuôn khổ của việc di động xã hội thông qua giáo dục Đại học. Chúng tôi thường bắt gặp những bình luận là học bổng sẽ được trao cho các sinh viên nghèo vượt khó như là cách xoa dịu cho việc học phí Đại học tăng cao như hiện nay. Nhưng không phải sinh viên nghèo nào cũng có thể vượt khó để đạt được học bổng, mà như số liệu chúng tôi đã ghi ở trên thì hoàn cảnh gia đình tác động rất lớn đến việc tiếp cận giáo dục Đại học của các em, huống chi số lượng học bổng luôn có hạn. Quan điểm của chúng tôi cho rằng việc theo đuổi giáo dục bậc cao để thoát nghèo là một ước vọng chính đáng. Vì thế, việc quá đề cao cá nhân, tạm bỏ qua điều kiện ngoại cảnh tác động lên cá nhân đó chính là đang đặt hết mọi gánh nặng lên vai cá nhân người học. Khi đất nước đang theo đuổi nền kinh tế tri thức thì cơ hội giáo dục phải cho nhiều tầng lớp tiếp cận. Từ đó, mọi tầng lớp mới có thể góp phần xây dựng xã hội bằng tri thức của mình.
Tài liệu tham khảo:
Boudon, R. (1973). L’inégalité des chances: la mobilité sociale dans les sociétés industrielles. Collection U.
Bourdieu, P., & Passeron, J. C. (1970). La reproduction éléments pour une théorie du système d’enseignement.
Nguyễn Trường Sơn. (2021, 18-05). Cử nhân “chạy” xe ôm công nghệ, thạc sĩ “làm” tiếp tan.
World Bank. (2020). Improving the performance of higher education in Vietnam: strategic priorities and policy options.
Morin, É., Therriault, G., & Bader, B. (2019). Le développement du pouvoir agir, l’agentivité et le sentiment d’efficacité personnelle des jeunes face aux problématiques sociales et environnementales: apports conceptuels pour un agir ensemble. Éducation et socialisation. Les Cahiers du CERFEE, (51).