Có thể đặt một giả thuyết rằng học sinh thi tốt nghiệp THPT chọn vào Đại học hoặc không chọn vào Đại học vì không phải họ tin rằng là “Đại học không phải là con đường duy nhất dẫn đến thành công”. Mà họ tính toán chi phí lợi ích mà họ bỏ ra cho 4 năm Đại học như là tiền học phí, tiền ăn ở, tiền trọ, khoảng cách trường gần hay xa nhà.

Chắc chắn, chúng ta không thể bỏ qua việc Đại học TỰ CHỦ TÀI CHÍNH dẫn đến học phí Đại học tăng cao cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến cân nhắc và lựa chọn của học sinh cho việc học Đại học tại Việt Nam. (Tự chủ ở Đại học ở Việt Nam không đồng nghĩa tự chủ xây dựng chương trình học như ở Đại học phương Tây vì Đại học ở Việt Nam vẫn phải thông qua các cơ quan cấp cao trong việc thành lập khoa, ngành hay thiết kế chương trình/môn học) [1].

Theo kết quả tổng kết về việc triển khai mô hình tự chủ Đại học 2018-2021 của Bộ Giáo dục là tự chủ Đại học về kinh tế khá thành công khi lương giảng viên ở các trường Đại học tăng mà chủ yếu là các trường Đại học ngành Kinh tế. Nhưng nguồn thu của trường Đại học theo Bộ Giáo dục chủ yếu nguồn thu của nhà trường vẫn là nguồn học phí [2]. Vậy nếu tỷ lệ tuyển sinh năm nay và những năm sau giảm, đồng thời, nguồn thu từ học phí Đại học của các trường sẽ tiếp tục giảm thì câu hỏi đặt ra là các trường Đại học phải làm sao? Tiếp tục tăng học phí để duy trì việc vận hành trường? hay Tiếp tục truyền thông để tuyển sinh nhiều khách hàng sinh viên mua dịch vụ giáo dục hơn?

Trong bối cảnh văn hóa của Đại học Việt Nam trước và sau 1975. Đại học vẫn là nơi mà phụ huynh lẫn học sinh nghĩ là nơi để họ di động xã hội để leo lên các nấc thang xã hội khác nhau. Chúng tôi vẫn còn nhớ vào năm 2017, chúng tôi đến Bến Tre, bắt gặp hiện tượng nhiều hộ gia đình ở một xã làm tiệc chúc mừng con mình đậu Đại học. Qua nhiều câu chuyện, việc mở tiệc và mời thân tộc tới chung vui khi con mình đậu Đại học không chỉ ở khu vực miền Nam mà còn miền Trung hay Bắc. Điều này phản ánh vai trò Đại học trong tư duy văn hóa người Việt như là bước đệm để di động xã hội và thay đổi vị thế/giai cấp của họ như thế nào.

Nhưng với việc tự chủ tài chính của Đại học hiện nay, Đại học còn là nơi hấp dẫn cho phụ huynh và học sinh gửi gắm số mệnh của họ cho việc dịch chuyển xã hội?

Quá trình chúng tôi điền dã ở Vĩnh Long gần đây, khi được hỏi về dự định học Đại học của con em họ thì họ trả lời “Chắc cho nó học Đại học bán công”. Chúng tôi ngạc nhiên hỏi rằng “Nhà mình làm nông vậy có đủ chi phí cho học Đại học bán công không?“. Người phụ huynh nam ấy cười tếu táo rằng “Bán công nghĩa là bán công đất cho nó học Đại học mới đủ đấy”. Hiện tượng ở khu vực đó thấy rằng, những người thuộc thế hệ cuối 9x và đầu 2k từ bỏ học Đại học hoặc học Đại học 1 năm đầu để đi xuất khẩu lao động bên Nhật mấy năm liền và gửi tiền về nuôi gia đình. Chúng tôi hỏi cô Năm về việc con gái nhà cô bỏ học Đại học và đi Nhật xuất khẩu lao động thì cô ấy nói rằng “Tao thấy học Đại học giờ lương cũng 6, 7 triệu mà chưa chắc có việc. Tao bảo nó đi Nhật để dành 1, 2 tỷ là được, vê Việt Nam nếu kiếm thằng nào được thì cưới, còn không thì ở vậy, bỏ 1, 2 tỷ vào ngân hàng ăn tiền lãi thì cũng nhàn, làm việc gì chơi thôi, vậy khỏe khỏi phải nghĩ nhiều”.

Một số hộ gia đình và một số vùng ở Việt Nam việc cho con em học Đại học như là cách dịch chuyển vị thế xã hội đã trở thành “habitus” (tập quán) của chính hộ gia đình hay vùng đó biểu hiện qua việc cho con đi học thêm, luyện thi.v..v.. Nhưng nhà nhân loại học Pierre Bourdieu cũng lưu ý rằng cái gọi là “Độ trễ của tập quán” (Hystérésis de l’habitus) để nói rằng khi bối cảnh xã hội thay đổi quá nhanh nhưng cá nhân đó vẫn giữ lại tập quán ở một chừng mực nhất định nào đó, dù tập quán đó có thể không phù hợp nữa. Vậy khi sự thay đổi của cấu trúc Đại học và thị trường lao động cách nhanh chóng vậy, vậy những phụ huynh và học sinh đó sẽ có những chiến lược thích ứng như thế nào? Họ sẽ giữ phần nào của tập quán để thích ứng bổi cảnh hiện nay? Trường hợp con gái cô Năm là một ví dụ dù bỏ học Đại học vừa mới học được năm nhất nhưng khi qua Nhật xuất khẩu lao động nhưng vẫn học thêm để lấy bằng tiếng Nhật N2 và một bằng về điều dưỡng ở đó vì con gái cô Năm vẫn thấy rằng bằng cấp vẫn là cơ hội tiến thân trong khi làm việc ở xã hội Nhật. Trong khi đó, chúng tôi quan sát thấy các học sinh không có dự định học Đại học hay bỏ học trước khi tốt nghiệp 12 thì không suy nghĩ nhiều về việc tích lũy bằng cấp ở Nhật mà chủ yếu bán sức lao động để kiếm tiền rồi quay về nhà.

Đây là một số suy nghĩ của chúng tôi và vẫn sẽ có nhiều góc nhìn hạn chế. Rất mong được sự góp ý của mọi người.